Tài trợ xe đạp cho học sinh nghèo tỉnh Đắk Nông & Đắk Lắk

Tài trợ xe đạp cho học sinh nghèo tại một số xã vùng sâu, vùng xa thuộc 2 tỉnh: Đắk Nông và Đắk Lắk

1. Thông tin cơ bản về Đề án

– TÊN ĐỀ ÁN: TÀI TRỢ XE ĐẠP CHO HỌC SINH NGHÈO TẠI MỘT SỐ XÃ VÙNG SÂU, VÙNG XA TẠI 02 TỈNH: ĐẮK NÔNG VÀ ĐẮK LẮK

Địa điểm và phạm vi thực hiện đề án: trên địa bàn các Thôn/Bon/Buôn, xã nghèo tại hai tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk

Nguồn tài trợ: Vốn tài trợ từ Quỹ Việt Nam hiếu học và nguồn vận động tài trợ từ các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm

Thời gian thực hiện đề án: năm 2019 – 2021

– Tổng mức đầu tư của Đề án là: 143.000.000 đồng, bao gồm:

*Vốn tài trợ của Quỹ VNHH:   72.000.000 đồng (50,34 %)

*Vốn vận động từ các mạnh thường quân: 71.000.000 đồng  (49,66 %)

– Mục tiêu của đề án:

+ Giúp cho các đối tượng trẻ em học sinh nghèo, người khuyết tật trẻ trẻ mồ côi trên địa bàn một số xã thuộc diện hộ nghèo được tài trợ xe đạp, thuận lợi cho học tập, sinh hoạt, giảm bớt khó khăn, vươn lên trong cuộc sống và hòa nhập với cộng đồng;

2.Thông tin chung về địa điểm dự kiến tài trợ

Đây là một số xã được chọn trong số các xã nghèo, đặc biệt khó khăn của 2 tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk, có nhiều học sinh người dân tộc thiểu số tại chổ và dân tộc  thiểu số phía bắc vào định cư, nhà xa điểm trường, cần hỗ trợ phương tiện cho học sinh đến trường được thuận lợi hơn;

STT Tỉnh Huyện
I.Tỉnh Đắk Nông
1 xã Đắk gằn huyện Đắk Mil
2 xã Đắk Drung, Trường Xuân huyện Đắk Song
II. Tỉnh Đắk lắk
3 Xã Dliê Ya Huyện krông Năng
Xã Ea Hồ Huyện krông Năng
4 Xã Ea Kly Huyện Krông Pắc
Xã Ea Phê Huyện Krông Pắc
Xã Ea Yiêng Huyện Krông Pắc
Vụ Bổn Huyện Krông Pắc
5 Xã Xư Prao Huyện M’Đrắk
Xã Cư San Huyện M’Đrắk
Xã Ea Trang Huyện M’Đrắk
6 Xã Buôn Triết Huyện Lắk
Xã Đắk Phơi Huyện Lắk
Xã Đắk Liêng Huyện Lắk
Xã Đắk Nuê Huyện Lắk

 

Phương pháp xây dựng đề án

Đề án được sử dụng phương pháp xây dựng đề án có người dân tham gia. Đây là phương pháp tiếp cận để tìm hiểu, nắm bắt tâm tư  nguyện vọng, nhu cầu của chính người dân và có sự tham gia, giám sát của cộng đồng

Quỹ VNHH phối hợp với Phòng Lao động – TB&XH các huyện và UBND các xã để xây dựng Đề án “tài trợ xe đạp cho học sinh nghèo vùng sâu, vùng xã thuộc các huyện tại 2 tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk” theo những nội dung như sau:

GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ HAI TỈNH ĐẮK NÔNG VÀ ĐẮK LẮK

1.TỔNG QUAN VỀ TỈNH ĐẮK NÔNG

Vị trí địa lý

Đắk Nông nằm ở cửa ngõ phía tây nam của Tây Nguyên, nằm trong vùng tọa độ từ 11°45 đến 12°50 vĩ độ bắc và từ 107°12 đến 108°07 kinh độ đông. Trung tâm tỉnh Đắk Nông nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột với chiều dài 125 km theo đường quốc lộ 14, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 250 km về phía nam. Phía bắc và đông bắc của Đắc Nông giáp với địa phận tỉnh Đắk Lắk, phía đông và đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía nam giáp tỉnh Bình Phước[4], đồng thời phía tây tỉnh Đắk Nông giáp với Vương Quốc Campuchia với đường biên giới dài khoảng 120 km, qua hai cửa khẩu là cửa khẩu Đăk Per thuộc huyện Đắk Mil và Bup’rang thuộc địa phận Tuy Đức.

Dân cư

Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Đắk Nông đạt gần 516.300 người, mật độ dân số đạt 79 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 78.300 người, chiếm 15% dân số toàn tỉnh, dân số sống tại nông thôn đạt 438.000 người, chiếm 85% dân số.

Toàn tỉnh Đắk Nông có 40 dân tộc. Trong đó, đông nhất là người kinh với 332.431 người, xếp thứ 2 là người Mnông với 39.964 người, vị trí thứ 3 là người Nùng với 27.333 người, người Mông ở vị trí thứ 4 với 21.952 người, cùng với các dân tộc khác như người Tày với 20.475 người, người Dao có 13.932 người, người Thái có 10.311 người, người Mạ có 6.456 người, Ê Đê có 5.271 người, người Hoa có 4.686 người, người Mường có 4.070 ngườie…cùng một số dân tộc ít người khác.

Những khó khăn của người nông dân tại Đắk Nông

Thực tế thời gian qua người dân sống chủ yếu bằng nghề nông, nhưng giá cả nông sản bấp bệnh và liên tục giảm, cây hồ tiêu là chủ lực của nhiều gia đình nhưng giá cả không ổn định, do nhiều xã/ huyện trên địa bàn tỉnh Đắk Nông còn khó khăn, người lao động đi ra ngoài tỉnh kiếm việc làm nhiều, việc thuê mướn nhân công khó khăn; diện tích canh tác phát triển tự phát, ồ ạt, không theo định hướng, cây công nghiệp, nông nghiệp SX chưa chú trọng đến chất lượng, không đáp ứng được các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật… nên chưa đáp ứng yêu cầu cho hàng xuất khẩu

Những xã nghèo của tỉnh Đắk Nông

Hiện nay trên toàn tỉnh Đắk Nông hiện có 50 Thôn/ Bon trên 32 xã đặc biệt khó khăn, nhiều hộ đồng bào dân tộc tại chổ và đồng bào dân tộc thiểu số phía di dân vào định cư tại một số Thôn/ Buôn vùng sâu vùng xa cuộc sống còn thiếu thốn, chưa có đủ điều kiện sinh hoạt, nhà cửa tạm bợ, phương tiện đi lại chưa có, các cháu học sinh phải đi học xa nhà không có phương tiện đi lại

1.GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TỈNH ĐẮK LẮK

Tỉnh Đắk Lắk nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên, đầu nguồn của hệ thống sông Sêrêpôk và một phần của sông Ba, nằm trong khoảng tọa độ địa lý từ 107o28’57”- 108o59’37” độ kinh Đông và từ 12o9’45” – 13o25’06” độ vĩ Bắc[6]. Độ cao trung bình 400 – 800 mét so với mặt nước biển, cao nhất là đỉnh núi Chư Yang Sin có độ cao 2442 m so với mực nước biển, đây cũng chính là đỉnh núi cao nhất ở Đắk lắk.

Phía Bắc của Đắk Lắk giáp Gia Lai

Phía Đông của Đắk Lắk giáp Phú Yên và Khánh Hoà
Phía Nam giáp Lâm Đồng và Đắk Nông
Phía Tây giáp Campuchia với đường biên giới dài 193 km, tỉnh Gia Lai nằm ở phía Bắc.

Kinh tế chủ đạo của Đăk Lăk chủ yếu dựa vào sản xuất và xuất khẩu nông sản, lâm sản. Đồng thời, là nơi phát triển các loại cây ăn trái khác, như cây bơ, sầu riêng, chôm chôm, xoài…

Tính đến năm 2016, dân số toàn tỉnh Đắk Lắk đạt gần 1.874.500 người, mật độ dân số đạt 135 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 426.000 người, chiếm 23% dân số toàn tỉnh, dân số sống tại nông thôn đạt 1.345.800 người, chiếm 77% dân số. Dân số nam đạt 894.200 người, trong khi đó nữ đạt 877.600 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 12,9 ‰ Đây cũng là tỉnh đông dân nhất vùng Tây Nguyên với hơn 1,8 triệu dân.

Tỉnh Đắk Lắk có 47 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc kinh chiếm đông nhất với 1.161.533 người, thứ hai là Người Ê Đê có 298.534 người, thứ ba là Người Nùng có 71.461 người, thứ tư là Người Tày có 51.285 người. Cùng các dân tộc ít người khác như M’nông có 40.344 người, Người Mông có 22.760 người, Người Thái có 17.135 người, Người Mường có 15.510 người…

Mặc dù kinh tế hàng năm phát triển, cơ sở hạ tầng hầu hết đáp ứng nhu cầu người dân, giao thông cơ bản thuận lợi, khí hậu thời tiết tương đối thuận lợi, nhưng do ở vùng đất Tây nguyên này đất đai tốt, nhiều vùng còn thưa dân sinh sống, nên rất nhiều hộ đồng bào dân tộc phía Bắc di cư vào sinh sống, đời sống những hộ này hầu hết còn nhiều khó khăn, tự vào phá rừng làm nhà, làm nương rẫy, trồng lúa, hoa màu…  cuộc sống vô cùng thiếu thốn, ảnh hưởng đến quy hoạch phát triển của địa phương; Đời sống rất nhiều hộ khó khăn vì thiếu nước, thiếu điện, vệ sinh môi trường kém, đói kém vào mùa giáp hạt, các cháu đi học xa không có phương tiện đến trường, hầu hết phải đi bộ, thiếu dinh dưỡng…

Vì vậy, cần trợ giúp cho các cháu gạo, mỳ, nhu yếu phẩm, chăn màn, cặp, vở… và đặc biệt là xe đạp, giúp các cháu học sinh nghèo có phương tiện di chuyển đến trường, thuận tiện trong đi lại, học tập và có thời gian giúp bố mẹ việc nhà và việc đồng áng, có động lực phát triển kinh tế, nâng bước cho các em đến trường

PHẦN II: NỘI DUNG ĐỀ ÁN “TÀI TRỢ XE ĐẠP CHO HỌC SINH NGHÈO  VÙNG CAO TẠI 2 TỈNH ĐẮKLẮK VÀ ĐĂK NÔNG

1.Mục tiêu chọn 2 tỉnh  Đắk Nông và Đắk Lắk để thực hiện đề án:

1.Là những tỉnh vùng cao, đời sống nhiều hộ dân còn khó khăn, có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số, sống chủ yếu bằng nghề canh tác nông nghiệp;

2.Năng suẩt cây trồng chưa cao do đất đai bạc màu, ảnh hưởng chất độc da cam;

3.Người dân cần cù, chịu khó lao động sản xuất, trồng cây, hoa màu, nuôi gia súc, tuy nhiên nhiều nơi đất đã bạc màu, sỏi đá, năng suất cây trồng thấp, năng lực trình độ người dân về khoa học kỹ thuật canh tác còn thấp… nên nhiều hộ đồng bào sống trên địa bàn các xã thuộc 2 tỉnh còn khó khăn;

4.Học sinh đi học xa từ 5 – 7 km nhưng không có phương tiện đến trường, có nhiều cháu phải dậy từ sáng sớm để kịp giờ học và nhiều cháu phải ở lại cuối tuần mới được về nhà, ở tạm bợ trên lớp, ảnh hưởng sức khỏe, thiếu không khí đầm ấm của gia đình về ban đêm, không giúp đỡ được bố mẹ nhiều

5.Sự cần thiết phải xây dựng Đề án tài trợ xe đạp cho học sinh nghèo và người dân nghèo vùng cao, tại một số xã thuộc tỉnh Đắk Lawsk và Đắk Nông

Để có cơ hội được nhà tài trợ hỗ trợ kinh phí hoặc hiện vật cho học sinh nghèo và người nghèo tại một số xã còn khó khăn thuộc 2 tỉnh, thông qua đề án được hỗ trợ kinh phí, cải thiện cuộc sống, nâng bước cho các em đến trường được thuận lợi hơn, sức khỏe tốt hơn, giúp các em học tập và sinh hoạt được thuận lợi;

Để thực hiện lồng ghép Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020 theo Quyết định 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ; những xã được thống kê tại đề án này  là những xã còn khó khăn, đang thực hiện xây dựng nông thôn mới, có nhiều hộ nghèo, nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đời sống còn nhiều khó khăn;

Người dân các xã nói trên nói riêng và người dân trên địa bàn 2 tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk có ý chi vươn lên trong học tập, rất cần cù, chịu khó canh tác, trồng hoa màu, lúa, chăn nuôi gia súc, cải thiện đời sống…

Tạo điều kiện cho học sinh nghèo giảm bớt khó khăn, có điều kiện tốt hơn để học tập, sản xuất… vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng và góp phần tạo của cải vật chất cho xã hội

1.Những nội dung được hỗ trợ của Đề án gồm:

-Tài trợ 110 xe đạp: 143.000.000 đồng (Không tính chi phí khảo sát, đi lại…)

2.Dự toán tổng kinh phí: 143.000.000 đồng: chia ra:

+Nguồn kinh phí do Quỹ Việt Nam hiếu học tài trợ:    72.000.000 đồng

+Nguồn kinh phí vận động từ các MTQ: 71.000.000 đồng     +Nguồn đối ứng của địa phương được tài trợ: /       đồng

2.Tiêu chí để lựa chọn đối tượng được hỗ trợ:

Do điều kiện kinh phí có hạn, nhu cầu  của học sinh nghèo và người nghèo còn nhiều, nên cần thiết phải có tiêu chí để lựa chọn, ưu tiên theo tiêu chí sau: vùng cao, vùng sâu, vùng xa, có nhiều người dân tộc thiểu số sinh sống, đời sống còn nhiều khó khăn; ưu tiên những nơi học sinh nghèo phải đi học xa nhà (từ 3 đến 7 km trở lên) mà phải đi bộ…

  • Hình ảnh một số xe đạp đã được tài trợ
  • Các cháu tề tựu đông đủ, vui như ngày hội
  • Thăm hỏi các cháu
  • Bối rối khi được nói lên niềm vui được tặng xe.

Bảng 01: Tổng hợp nội dung tài trợ xe đạp cho học sinh nghèo tại các xã thuộc 2 tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk (đơn vị tính: xe đạp)

STT Huyện được tài trợ Các xã được chọn tài trợ Tổng số Ghi chú
I Tỉnh Đắk Nông 35
01 Huyện Đắk Mil Xã Đắk gằn 15
02 Huyện Đắk Song Xã Đắk Drung, xã Trường Xuân 20
II Tỉnh Đắk Lắk 75
03 Krông Năng Xã Dliee Ya, xã Ea Hồ, 20
04 Krông Pắc Ea Kly, Ea Phê, Ea Yiêng, Vụ Bổn 20
05 M’Đrắk Cư Prao, Cư San, Ea Trang 20
06 Lắk Xã Buôn Triết, Đắk Phơi, Đắk Liêng, Đắk Nuê 15
Tổng cộng: 110

 

Bảng 02:  TỔNG HỢP KINH PHÍ CỦA ĐỀ ÁN TÀI TRỢ CHO HỌC SINH NGHÈO VÀ NGƯỜI NGHÈO

(đơn vị tính: đồng)

STT Nội dung hỗ trợ Đơn vị tính Số lượng Số tiền hỗ trợ bình quân cho 1 giếng nước

(đồng)

Tổng kinh phí đề án (đồng) Trong đó Ghi chú
Vốn tài trợ từ Quỹ VNHH Vốn vận động từ các nhà tài trợ/ MTQ Vốn đối ứng của địa phương
01 Xe đạp Chiếc 110 1.300.000 /
Tỉnh Đắk Nông Chiếc 35 1.300.000 45.500.000 23.000.000 22.500.000
Tỉnh Đắk Lắk Chiếc 75 1.300.000 97.500.000 49.000.000 48.500.000
Tổng cộng: 143.000.000 72.000.000 71.000.000 /
Chi phí mỗi công trình Giếng nước gồm có: tiền khoan giếng, máy bơm nước và Bồn chứa INOX 1.000 lít trở lên

1.Tổng kinh phí của Đề án hỗ trợ cho học sinh nghèo:

-Tổng số người được hưởng lợi: 110 người

Tổng số kinh phí Đề án: 143.000.000 đồng

Trong đó:  -Kinh phí Quỹ VNHH:   72.000.000 đồng

-Kinh phí vận động MTQ:       71.000.000 đồng

Phần IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1.Kết luận

Đề án tài trợ xe đạp cho học sinh nghèo tại các nghèo trên địa bàn hai tỉnh Đắk Nông và Đắk Lắk có mục tiêu rõ ràng, các hoạt động thiết kế hợp lý, rất cần thiết để thực hiện, khi thực hiện thành công sẽ mang lại những hiệu quả sau:

-Giúp cho các đối tượng học sinh nghèo, học sinh khuyết tật, học sinh mồ côi nghèo tại các vùng sâu vùng xa, trên địa bàn các xã có phương tiện đến trường và đi lại, giảm khó khăn, điều kiện vật chất và tinh thần được nâng lên, sức khỏe tốt hơn, tiếp tục đến trường, nâng cao kiến thức, góp phần xây dựng xã hội

-Khi được hỗ trợ thành công, học sinh nghèo, sẽ có điều kiện tốt hơn để tham gia học tập, cùng đóng góp, xây dựng xã hội, xây dựng địa phương

1.Kiến nghị

Đề nghị UBND các xã: thuộc 2 huyện Đắk Mil, Đắk Song – tỉnh Đắk Nông; và các xã: thuộc 4 huyện Krông Pắc, Krông Năng, Lắk, M’Đrắk thuộc tỉnh Đắk Lắk chỉ đạo, đôn đốc các Thôn, Buôn triển khai thực hiện đúng các nội dung cam kết với nhà tài trợ và kiểm tra, giám sát việc thực hiện đối với các xã được tài trợ, để Đề án thực sự có hiệu quả trong việc phát triển dân sinh, kinh tế ở nơi được hưởng lợi từ đề án;

Xin chân thành cảm ơn !

Nơi nhận: T.M. HỘI ĐỒNG QUẢN LÝ

-Nhà tài trợ; QUỸ VIỆT NAM HIẾU HỌC   UBND các xã được tài trợ

-Nhà tài trợ chính;

-Lưu VP. Quỹ VNHH.

Trần Thị Hương Trà